Ký ức về thảm kịch máy bay không vận trẻ em Việt Nam 40 năm trước

c5-2857-1428310479.jpg

Chiếc máy bay C-5 vỡ thành 4 mảnh trên cánh đồng ở gần sân bay Tân Sơn Nhất. Ảnh: Peter Alanl Loyd

Ông Harp, đại úy Keith Malone và cơ trưởng, đại úy Dennis Traynor, là những người ngồi trên khoang lái của chiếc C-5 chở hơn 300 người rời khỏi Sài Gòn ngày 4/4/1975.

Tháng 4/1974, khi quân đội của miền bắc Việt Nam đang áp sát Sài Gòn, Tổng thống Mỹ Gerald Ford đã ra lệnh cho máy bay của Bộ Chỉ huy Không vận Quân sự đến một trong những sân bay cuối cùng ở Sài Gòn để di tản công dân và những người Việt thân Mỹ.

Trong số đó có hàng nghìn trẻ được cho là trẻ mồ côi Việt Nam hoặc con lai, từ sơ sinh cho đến vài tuổi. Các em rời đất nước trên những chuyến bay thuộc “Chiến dịch Không vận Trẻ em”.

Tại Việt Nam, chiến dịch diễn ra từ ngày 4/4 đến 26/4, sử dụng 24 máy bay của quân đội Mỹ cùng một số phi cơ được các tổ chức từ thiện tư nhân thuê chở. Gần 3.000 trẻ em rời quê hương trong đợt không vận này.

Chiều 4/4, chiếc C-5 mang số hiệu 68-0218 mà ông Harp làm cơ phó thực hiện chuyến không vận đầu tiên trong chiến dịch. Ông Harp, người đã có kinh nghiệm 1.200 giờ bay, mô tả căn cứ không quân Tân Sơn Nhất lúc đó hỗn loạn, khi chính phủ Việt Nam Cộng hòa sắp sụp đổ. 

Chiếc C-5 hạ cánh vào khoảng 15h, dỡ hàng hóa quân sự xuống và sẵn sàng để chở trẻ em, cũng như đón đội ngũ y tế từ căn cứ không quân Clark ở Philippines đến hỗ trợ các em nhỏ.

Phi hành đoàn và các nhân viên y tế tạo đứng thành hàng dài, đưa từng em qua cửa, lên cầu thang và vào bên trong khoang binh sĩ. 

“Các thanh kê tay đã được tháo bỏ nên chúng tôi có thể đặt hai em trên một ghế, 6 em một hàng. Chúng tôi đã cố gắng để đưa gần hết các em nhỏ lên tầng trên và các em lớn tuổi hơn ở tầng dưới”, y tá chuyến bay Regina Aune kể lại trong một cuộc phỏng vấn sau đó.

Máy bay cất cánh với 229 trẻ em và 85 nhân viên y tế cùng tổ bay. Hầu hết trẻ em ở trong khoang binh sĩ, phần còn lại phải ngồi dưới khoang hàng hóa. 

Malone, một phi công vừa hoàn thành khóa huấn luyện lái C-5, được chỉ định tham gia chuyến bay để có cơ hội làm quen nhiều hơn với hoạt động của phi cơ. Vì thế, ông ngồi giữa Harp và Traynor.

“Điều đó đã cứu mạng tôi, nếu không, tôi sẽ ngồi dưới khoang hàng hóa”, Malone nói.

Thảm họa

c5-b-1509-1428310479.jpg

Hiện trường tan hoang của vụ tai nạn. Ảnh: Peter Alanl Loyd

Hơn 12 phút sau khi cất cánh, thảm họa ập đến khi ba ổ khóa giữ thang máy bay lại không được khóa, khiến nó trở nên lỏng lẻo. Điều này đã khiến cửa áp suất bị bung khỏi chiếc C-5 ở độ cao hơn 7.000 m.

Dấu hiệu đầu tiên cho thấy sự cố là “một tiếng nổ lớn và buồng lái mờ đi”, ông Malone kể. Mọi thứ trở nên tồi tệ hơn khi cửa áp suất va đập vào thân máy bay, phá vỡ nhiều bộ phận quan trọng. Khoang hàng hóa báo cáo rằng “cả phần sau của máy bay đã bị rời ra” và các dây cáp bị đứt lủng lẳng như mỳ Ý”. 

“Chúng tôi chỉ có thể điều khiển máy bay được một phần”, ông Harp nói.

Khi đó họ đang ở phía trên Vũng Tàu. Traynor vật lộn để đưa máy bay quay đầu trở lại Sài Gòn và hạ độ cao từ từ trong khi Harp thu thập thông tin về tình trạng của C-5. Tuy nhiên, máy bay đã lao xuống nhanh chóng. Sau đó, họ cố gắng đưa máy bay lên cao và điều khiển được phi cơ quay đầu về Tân Sơn Nhất.

Tuy nhiên, các phi công nhận ra là họ không thể chạm tới đường băng và cố gắng hạ cánh xuống một cánh đồng. Máy bay lao vào một đầm lầy cách đường băng hơn 3 km, rồi đâm vào đê, bật ngược lại lên không trung và băng qua sông Sài Gòn.

Cuối cùng, nó đâm xuống mặt đất, trượt dài hơn 300 m, trước khi dừng lại ở một cánh đồng lúa và vỡ thành 4 mảnh: đuôi, khoang bay, khoang binh sĩ và cánh. 

“Chúng tôi mất toàn bộ điện. Khoang bay rất rất tối vì bùn bao phủ kính chắn gió và chúng tôi có thể cảm thấy mình đang trượt đi”, ông Harp kể. 

Ông không nhận ra buồng lái đã bị lộn ngược cho đến khi mở dây an toàn và ngã ra ngoài. Những người sống sót trong khoang thoát ra ngoài qua cửa sổ phía phi công. 

Malone nhìn sang bên phải và chẳng thấy gì nhiều ngoại trừ xác máy bay đang bốc cháy. Ông đi quanh mũi chiếc C-5 và ngạc nhiên khi phát hiện ra khoang binh sĩ vẫn còn nguyên vẹn. Các phi công sau đó nhanh chóng giải cứu những người sống sót rải rác trong đống đổ nát.

Các y tá như bà Aune, người bị gãy chân, loạng choạng bước ra từ khoang binh sĩ và bắt đầu bế những đứa trẻ giao cho họ. Aune trao tay những em bé cho đến khi bà gần như ngã khuỵu xuống. Y tá Harriet Goffinett, một tay không cử động được vì gãy xương, bế các em nhỏ trên hông.

c5-c-1216-1428310479.jpg

Những đứa trẻ may mắn sống sót trong tai nạn. Ảnh: Peter Alanl Loyd

Trực thăng cứu hộ có mặt sau đó 5 phút. Bất chấp những nỗ lực của phi hành đoàn, 138 người, trong đó 76 trẻ em Việt Nam (có tài liệu nói 78 hoặc 79), đã thiệt mạng. 176 người trong đó có 150 trẻ em mồ côi, may mắn sống sót.

Sau vụ tai nạn, Không quân Mỹ vẫn tiếp tục chiến dịch không vận. Tổ bay và các nhân viên y tế được ca ngợi là những anh hùng vì vừa cứu máy bay vừa cứu các nạn nhân.

Trong nhiều năm sau đó, C-5 bị hạn chế chở khách ở khoang hàng hóa. Các vị trí điều khiển chuyến bay và các đường ống thủy lực được thay đổi. 

Cả Harp và Malone sau đó cũng trở lại công việc của mình. Malone nghỉ hưu năm 1993 ở cấp trung tá. Harp nghỉ hưu khi đang là phó chỉ huy của một máy bay chở dầu KC-135. 

Anh Ngọc

Comments are closed.